Biện pháp quản lý giám sát chất lượng và an toàn doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm
Cập nhật gần nhất: 29-02-2023
(Ngày 18 tháng 7 năm 2003, Tổng cục Giám sát Chất lượng, Kiểm nghiệm và Kiểm dịch Quốc gia ban hành Lệnh số 52)
Chương I: Những quy định chung
Điều 1
Nhằm tăng cường công tác giám sát và quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm từ nguồn gốc, nâng cao trình độ quản lý chất lượng và chất lượng an toàn sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm, bảo đảm sức khỏe và an toàn tính mạng con người, căn cứ vào Luật Chất lượng Sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Quy định Thí nghiệm Giấy phép Sản xuất Sản phẩm Công nghiệp, Quyết định của Quốc vụ viện về việc tăng cường hơn nữa một số vấn đề về công tác chất lượng sản phẩm và các chức năng do Quốc vụ viện giao cho Tổng cục Giám sát Chất lượng, Kiểm nghiệm và Kiểm dịch Quốc gia (sau đây gọi là "Tổng cục Chất lượng Quốc gia") cùng các quy định có liên quan, Biện pháp này được ban hành.
Điều 2
Thực phẩm được nhắc tới trong Biện pháp này là những chế phẩm qua quá trình gia công, chế biến công nghiệp dùng để cho con người ăn hoặc uống. Bất kỳ hoạt động sản xuất, gia công thực phẩm nào được tiến hành trên lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với mục đích tiêu thụ đều phải tuân thủ Biện pháp này. Thực phẩm xuất nhập khẩu được xử lý theo các quy định về kiểm nghiệm, kiểm dịch và giám sát quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu của quốc gia.
Điều 3
Chất lượng và an toàn của thực phẩm phải tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định hành chính và tiêu chuẩn bắt buộc của quốc gia; đáp ứng các yêu cầu bảo đảm sức khỏe con người, an toàn tính mạng và không tồn tại những nguy hiểm bất hợp lý gây phương hại đến sức khỏe và an toàn.
Điều 4
Các doanh nghiệp tham gia sản xuất, gia công thực phẩm (bao gồm cả các hộ kinh doanh cá thể) phải tuân thủ các yêu cầu của hệ thống tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm do nhà nước thực hiện, phải có các điều kiện sản xuất thiết yếu bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm (sau đây gọi là "điều kiện thiết yếu"), có được giấy phép sản xuất thực phẩm theo quy trình quy định; thực phẩm sản xuất, gia công phải qua kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn và được in (dán) nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm thì mới được xuất xưởng và tiêu thụ.
Doanh nghiệp chưa có giấy phép sản xuất thực phẩm không được sản xuất, gia công các loại thực phẩm tương ứng. Việc tự ý tiến hành sản xuất khi chưa có giấy phép sản xuất được coi là sản xuất không có giấy phép. Thực phẩm chưa qua kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn, chưa in (dán) nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm không được xuất xưởng tiêu thụ.
Điều 5
Các cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng các cấp theo sự triển khai thống nhất và yêu cầu của Tổng cục Chất lượng Quốc gia, trong phạm vi trách nhiệm của mình, chịu trách nhiệm tổ chức thực thi chế độ tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm, đồng thời thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật.
Điều 6
Mọi đơn vị và cá nhân đều có quyền tố cáo các hành vi vi phạm quy định của Biện pháp này với Tổng cục Chất lượng Quốc gia và các cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng địa phương. Cơ quan tiếp nhận tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo và khen thưởng những người có công tố cáo theo quy định của nhà nước.
Chương II: Điều kiện thiết yếu của doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm
Điều 7
Doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải đáp ứng các điều kiện thành lập doanh nghiệp do pháp luật, quy định hành chính và các chính sách có liên quan của nhà nước quy định.
Điều 8
Doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải có các điều kiện môi trường bảo đảm chất lượng và an toàn sản phẩm.
Điều 9
Doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải có trang thiết bị sản xuất, trang thiết bị công nghệ và các thiết bị phụ trợ liên quan để bảo đảm chất lượng và an toàn sản phẩm; có nhà xưởng hoặc địa điểm xử lý nguyên liệu, gia công, bảo quản... thích ứng với việc bảo đảm chất lượng sản phẩm. Trường hợp sản xuất thực phẩm bằng các thiết bị công nghệ đặc biệt như công nghệ gia công bức xạ thì cũng phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật, quy định về đo lường và các quy định có liên quan khác quy định.
Điều 10
Quy trình công nghệ chế biến thực phẩm phải khoa học, hợp lý; quá trình sản xuất và gia công phải nghiêm ngặt, chuẩn mực nhằm ngăn ngừa ô nhiễm sinh học, hóa học, vật lý, đồng thời ngăn ngừa ô nhiễm chéo giữa thực phẩm sống và thực phẩm chín, nguyên liệu và bán thành phẩm, thành phẩm, thực phẩm lâu ngày và thực phẩm tươi sống, v.v.
Điều 11
Nguyên liệu thô, phụ gia, v.v., do doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm sử dụng để sản xuất thực phẩm phải tuân thủ các quy định có liên quan của nhà nước. Không được sử dụng các nguyên liệu phụ và nguyên liệu thô không dùng để ăn để gia công thực phẩm.
Điều 12
Doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải tổ chức sản xuất theo các tiêu chuẩn sản phẩm có hiệu lực. Chất lượng và an toàn thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật, quy định và các tiêu chuẩn bắt buộc tương ứng; trường hợp không có quy định của tiêu chuẩn bắt buộc thì phải đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn do doanh nghiệp công khai áp dụng.
Điều 13
Người phụ trách và nhân viên quản lý chính của doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải hiểu biết về kiến thức pháp luật và quy định liên quan đến chất lượng và an toàn thực phẩm; doanh nghiệp thực phẩm phải có nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật lành nghề và nhân viên chất lượng thích ứng với việc sản xuất thực phẩm. Nhân viên tham gia sản xuất, gia công thực phẩm phải có sức khỏe tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm và các bệnh khác ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn thực phẩm.
Điều 14
Doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải có phương tiện kiểm tra chất lượng và đo lường tương thích với sản phẩm sản xuất ra. Doanh nghiệp phải có năng lực kiểm tra sản phẩm xuất xưởng; các dụng cụ kiểm tra, đo lường phải qua kiểm định đo lường đạt tiêu chuẩn thì mới được sử dụng. Các doanh nghiệp không có năng lực kiểm tra xuất xưởng bắt buộc phải ủy quyền cho các tổ chức kiểm nghiệm có tư cách pháp định do Tổng cục Chất lượng Quốc gia công bố thống nhất để tiến hành kiểm tra sản phẩm xuất xưởng.
Điều 15
Doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm phải thiết lập hệ thống tiêu chuẩn trong toàn bộ quá trình sản xuất, thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn hóa, thiết lập và hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp, thực hiện quản lý chất lượng toàn bộ quá trình từ thu mua nguyên liệu thô, kiểm tra sản phẩm xuất xưởng đến dịch vụ sau bán hàng, thiết lập chế độ trách nhiệm chất lượng theo vị trí công tác, tăng cường kiểm tra chất lượng và thực hiện nghiêm ngặt quyền phủ quyết chất lượng.
Khuyến khích doanh nghiệp đạt được chứng nhận hệ thống chất lượng hoặc chứng nhận HACCP dựa trên các tiêu chuẩn quản lý chất lượng và quy chuẩn kỹ thuật thông hành quốc tế nhằm nâng cao trình độ quản lý chất lượng của doanh nghiệp.
Điều 16
Vật liệu dùng để đóng gói thực phẩm phải sạch sẽ, không gây ô nhiễm cho thực phẩm. Bao bì và nhãn mác của thực phẩm phải tuân thủ các quy định và yêu cầu tương ứng. Thực phẩm bán lẻ không đóng gói sẵn nếu có thể gắn nhãn trên bao bì lớn xuất xưởng thì phải được gắn nhãn.
Điều 17
Các loại thùng chứa, bao bì, công cụ, thiết bị dùng để bảo quản, vận chuyển và bốc dỡ thực phẩm phải an toàn, giữ sạch sẽ, không gây ô nhiễm cho thực phẩm.
Chương III: Cấp phép sản xuất thực phẩm
Điều 18
Tổng cục Chất lượng Quốc gia ủy quyền cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh tổ chức triển khai công việc tiếp nhận đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm, thẩm định điều kiện thiết yếu của doanh nghiệp, kiểm tra chất lượng sản phẩm và cấp giấy phép sản xuất thực phẩm trong khu vực quản lý của mình.
Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh có thể ủy quyền cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp thành phố (địa khu) đảm nhiệm các công việc cụ thể như tiếp nhận và thẩm định giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 19
Theo nguyên tắc quản lý theo khu vực và quản lý theo phân cấp, doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm nộp đơn xin làm thủ tục cấp giấy phép sản xuất thực phẩm tại cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng từ cấp thành phố (địa khu) nơi doanh nghiệp đặt trụ sở trở lên.
Phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp phải bao trùm sản phẩm xin cấp giấy phép.
Các doanh nghiệp thực phẩm mới xây dựng và mới chuyển đổi sản xuất phải kịp thời nộp đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng.
Trừ các điều kiện hạn chế do pháp luật và quy định hành chính quy định, không một đơn vị nào được phép đặt thêm các điều kiện khác để hạn chế doanh nghiệp xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 20
Sau khi tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép của doanh nghiệp, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh, cấp thành phố (địa khu) phải thành lập đoàn thẩm định trong vòng 15 ngày làm việc để hoàn thành việc thẩm định đơn xin và các tài liệu như tài liệu kỹ thuật. Nếu tài liệu của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu, sẽ được cấp "Thông báo tiếp nhận giấy phép sản xuất thực phẩm". Nếu tài liệu khai báo của doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải thông báo cho doanh nghiệp bổ sung và chỉnh sửa trong vòng 20 ngày làm việc; quá hạn không bổ sung, chỉnh sửa sẽ được coi như rút lại đơn.
Điều 21
Đối với những doanh nghiệp đã qua thẩm định tài liệu văn bản đạt yêu cầu, đoàn thẩm định căn cứ theo quy tắc thẩm định giấy phép sản xuất thực phẩm, hoàn thành việc thẩm định tại chỗ về điều kiện thiết yếu và năng lực kiểm tra xuất xưởng của doanh nghiệp trong vòng 40 ngày làm việc, đồng thời tiến hành lấy mẫu và niêm phong mẫu tại chỗ đối với những doanh nghiệp đạt yêu cầu thẩm định tại chỗ.
Điều 22
Đoàn thẩm định hoặc doanh nghiệp xin cấp phép phải chuyển mẫu đến cơ quan kiểm nghiệm được chỉ định trong vòng 10 ngày làm việc kể từ sau khi niêm phong mẫu (trừ trường hợp có quy định đặc biệt). Sau khi nhận được mẫu, cơ quan kiểm nghiệm phải tiến hành kiểm nghiệm theo tiêu chuẩn và yêu cầu quy định, đồng thời phải hoàn thành công tác kiểm nghiệm trong thời hạn quy định.
Điều 23
Những trường hợp qua thẩm định điều kiện thiết yếu và kiểm nghiệm cấp phép đạt yêu cầu, đáp ứng điều kiện cấp phép, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải tiến hành xét duyệt báo cáo thẩm định trong vòng 10 ngày làm việc; sau khi xác nhận không có sai sót, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh tiến hành tổng hợp thống nhất tài liệu của các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện cấp phép, đồng thời trong vòng 15 ngày làm việc gửi danh sách các doanh nghiệp đạt điều kiện cấp phép cùng các tài liệu liên quan lên Tổng cục Chất lượng Quốc gia.
Điều 24
Trường hợp qua thẩm định điều kiện thiết yếu hoặc kiểm nghiệm cấp phép không đạt yêu cầu và không đáp ứng điều kiện cấp phép, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải gửi "Thông báo thẩm định không đạt yêu cầu về giấy phép sản xuất thực phẩm" cho doanh nghiệp và nêu rõ lý do. Kể từ ngày phát hành "Thông báo thẩm định không đạt yêu cầu về giấy phép sản xuất thực phẩm", "Thông báo tiếp nhận giấy phép sản xuất thực phẩm" ban đầu của doanh nghiệp sẽ tự động hết hiệu lực. Kể từ ngày nhận được "Thông báo thẩm định không đạt yêu cầu về giấy phép sản xuất thực phẩm", doanh nghiệp phải lập tức chỉnh sửa, khắc phục và sau 2 tháng mới được nộp lại đơn xin cấp phép.
Điều 25
Sau khi nhận được tài liệu về các doanh nghiệp đạt điều kiện cấp phép do cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh báo cáo lên, Tổng cục Chất lượng Quốc gia phải tiến hành xét duyệt và phê chuẩn trong vòng 10 ngày làm việc. Tổng cục Chất lượng Quốc gia chịu trách nhiệm công bố danh sách các doanh nghiệp đã đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 26
Căn cứ vào sự phê chuẩn của Tổng cục Chất lượng Quốc gia, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh phải hoàn thành công việc cấp giấy phép sản xuất thực phẩm và bản sao cho các doanh nghiệp sản xuất đạt điều kiện cấp phép trong vòng 15 ngày làm việc.
Điều 27
Thực phẩm do doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm xuất khẩu sản xuất nhưng được tiêu thụ trên lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì phải nộp đơn xin làm thủ tục cấp giấy phép sản xuất thực phẩm theo quy định của Biện pháp này. Các doanh nghiệp đã nhận được giấy chứng nhận đăng ký vệ sinh thực phẩm xuất khẩu, giấy chứng nhận đăng ký do cơ quan kiểm nghiệm kiểm dịch xuất nhập cảnh cấp, hoặc các doanh nghiệp đã thông qua chứng nhận, thẩm định hệ thống HACCP, khi nộp đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm sẽ được miễn thẩm định điều kiện thiết yếu của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp chứng nhận thực phẩm được Tổng cục Chất lượng Quốc gia công nhận, khi nộp đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm, sẽ căn cứ theo nguyên tắc không lặp lại để đơn giản hóa hoặc miễn thẩm định điều kiện thiết yếu của doanh nghiệp.
Điều 28
Thời hạn hiệu lực của giấy phép sản xuất thực phẩm thường không quá 5 năm. Thời hạn hiệu lực giấy phép sản xuất của các loại thực phẩm khác nhau được quy định trong văn bản quy chuẩn tương ứng.
Điều 29
Doanh nghiệp phải nộp đơn xin đổi giấy phép cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng nơi tiếp nhận đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm ban đầu trong vòng 6 tháng trước khi giấy phép sản xuất thực phẩm hết hạn hiệu lực. Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải tiến hành thẩm định và đổi giấy phép theo quy trình xin cấp quy định.
Điều 30
Thực hiện chế độ thẩm định hằng năm đối với giấy phép sản xuất thực phẩm. Các doanh nghiệp đã đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm phải nộp đơn xin thẩm định hằng năm cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng từ cấp thành phố (địa khu) trở lên nơi doanh nghiệp đặt trụ sở trong vòng 1 tháng trước khi tròn mỗi 1 năm trong thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận. Công việc thẩm định hằng năm do cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng tiếp nhận đơn xin thẩm định hằng năm tổ chức thực hiện. Trường hợp thẩm định hằng năm đạt yêu cầu, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải ký ý kiến thẩm định hằng năm vào bản sao giấy phép sản xuất của doanh nghiệp.
Điều 31
Khi các điều kiện sản xuất như nguyên liệu thô thực phẩm, công nghệ sản xuất, thiết bị sản xuất của doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm có sự thay đổi lớn, hoặc khi phát triển sản xuất loại thực phẩm mới, doanh nghiệp phải nộp đơn xin thay đổi giấy phép sản xuất thực phẩm cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng nơi tiếp nhận đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm ban đầu trong vòng 3 tháng kể từ khi sự thay đổi xảy ra. Khi tiếp nhận đơn xin thay đổi, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải thẩm định xem doanh nghiệp có còn đáp ứng các yêu cầu về điều kiện thiết yếu của doanh nghiệp sản xuất thực phẩm hay không.
Khi tên doanh nghiệp có sự thay đổi, doanh nghiệp phải nộp đơn xin đổi tên giấy phép sản xuất thực phẩm cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng nơi tiếp nhận đơn xin cấp giấy phép sản xuất thực phẩm ban đầu trong vòng 3 tháng sau khi thay đổi tên.
Điều 32
Doanh nghiệp phải bảo quản cẩn thận giấy chứng nhận giấy phép sản xuất thực phẩm; trường hợp làm mất hoặc không thể nhận diện giấy chứng nhận giấy phép sản xuất thực phẩm do nguyên nhân hư hỏng hoặc nguyên nhân bất khả kháng thì phải kịp thời đăng tải thông cáo trên các báo từ cấp tỉnh trở lên, đồng thời báo cáo cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh. Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh phải kịp thời tiếp nhận đơn xin cấp lại giấy phép sản xuất thực phẩm của doanh nghiệp, làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận theo quy định, đồng thời báo cáo Tổng cục Chất lượng Quốc gia để lưu hồ sơ.
Điều 33
Giấy phép sản xuất thực phẩm áp dụng phương pháp đánh số bằng chữ cái tiếng Anh QS cộng với 12 chữ số Ả Rập. QS là chữ viết tắt của tiếng Anh Quality Safety, 4 chữ số đầu tiên của mã số là mã số cơ quan tiếp nhận, 4 chữ số ở giữa là mã số chủng loại sản phẩm, 4 chữ số sau cùng là số thứ tự doanh nghiệp. Đối với những sản phẩm đã đạt được giấy phép sản xuất, doanh nghiệp bắt buộc phải ghi mã số giấy phép sản xuất trên bao bì và nhãn mác của sản phẩm.
Chương IV: Kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm
Điều 34
Đối với nguyên liệu thô, phụ gia, vật liệu đóng gói và thùng chứa dùng để sản xuất, gia công thực phẩm bắt buộc phải thực hiện chế độ nghiệm thu khi nhập hàng; những sản phẩm không đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và an toàn thì không được sử dụng vào việc sản xuất, gia công và đóng gói thực phẩm. Thực phẩm xuất xưởng bắt buộc phải qua kiểm tra; thực phẩm chưa qua kiểm nghiệm hoặc kiểm nghiệm không đạt tiêu chuẩn thì không được xuất xưởng, tiêu thụ.
Điều 35
Các doanh nghiệp đã đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm và có năng lực kiểm tra sản phẩm xuất xưởng có thể tự mình kiểm tra đối với thực phẩm do mình sản xuất, gia công thuộc phạm vi cho phép của giấy phép sản xuất thực phẩm. Trường hợp nhà nước có quy định khác về việc kiểm tra một số loại thực phẩm đặc biệt thì sẽ được xử lý theo các quy định có liên quan của nhà nước.
Doanh nghiệp thực hiện tự kiểm tra hằng năm phải đưa mẫu đến cơ quan kiểm nghiệm do cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng chỉ định để tiến hành đối chiếu.
Điều 36
Cơ quan kiểm nghiệm đảm nhiệm công tác kiểm tra thực phẩm được quy định trong Biện pháp này phải có tư cách pháp định và các điều kiện, qua chứng nhận đo lường, thẩm định xét duyệt hoặc thông qua công nhận phòng thí nghiệm theo quy định của nhà nước thì mới được đảm nhiệm các nhiệm vụ kiểm tra theo pháp luật và kiểm tra theo ủy quyền đối với thực phẩm.
Điều 37
Các doanh nghiệp không có năng lực kiểm tra sản phẩm xuất xưởng phải ủy quyền cho cơ quan kiểm nghiệm do Tổng cục Chất lượng Quốc gia chỉ định và công bố thống nhất để tiến hành kiểm tra thực phẩm xuất xưởng theo nguyên tắc gần và thuận tiện.
Điều 38
Các đơn vị và nhân viên đảm nhiệm công việc kiểm tra và lấy mẫu thực phẩm phải tiến hành lấy mẫu và kiểm tra sản phẩm dựa trên các yêu cầu của tiêu chuẩn sản phẩm và quy chuẩn kỹ thuật có liên quan.
Chương V: Nhãn mác chất lượng và an toàn thực phẩm
Điều 39
Thực phẩm thực hiện chế độ tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm trước khi xuất xưởng bắt buộc phải được in (dán) nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm; không có nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm thì không được xuất xưởng tiêu thụ.
Điều 40
Nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm là nhãn chất lượng, biểu thị thực phẩm phù hợp với các yêu cầu cơ bản về chất lượng và an toàn, được thể hiện bằng chữ viết tắt "QS" của tên tiếng Anh Quality Safety ("Chất lượng An toàn").
Điều 41
Tổng cục Chất lượng Quốc gia quy định thống nhất mẫu mã của nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm (sau đây gọi là "nhãn QS") (xem phụ lục).
Điều 42
Doanh nghiệp sử dụng nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm biểu thị sản phẩm của mình đã qua kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn, phù hợp với các yêu cầu cơ bản về chất lượng và an toàn thực phẩm. Doanh nghiệp đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm, thực phẩm xuất xưởng qua tự kiểm tra hoặc kiểm tra theo ủy quyền đạt tiêu chuẩn thì phải in (dán) nhãn QS lên bao bì hoặc nhãn mác thực phẩm của đơn vị bán hàng nhỏ nhất.
Khi sử dụng nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm, có thể phóng to hoặc thu nhỏ theo tỷ lệ tùy theo nhu cầu, nhưng không được biến dạng, đổi màu. Nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm do doanh nghiệp sản xuất thực phẩm tự in (dán).
Điều 43
Đối với thực phẩm đã in (dán) nhãn QS, trong thời hạn bảo đảm chất lượng, nếu xuất hiện vấn đề về chất lượng không phải do người tiêu dùng sử dụng hoặc bảo quản không đúng cách, người sản xuất, người bán hàng phải chịu trách nhiệm pháp lý theo pháp luật tùy theo nghĩa vụ tương ứng của mình.
Chương VI: Giám sát chất lượng và an toàn thực phẩm
Điều 44
Doanh nghiệp đã đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm phải bảo đảm sản xuất liên tục, ổn định thực phẩm đạt tiêu chuẩn, đồng thời chấp nhận sự giám sát và quản lý của cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng các địa phương. Doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm phải kiểm tra xem thực phẩm được bán ra có nhãn QS và mã số giấy phép sản xuất thực phẩm hay không.
Điều 45
Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải định kỳ tiến hành giám sát và kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm căn cứ theo đặc điểm của các loại thực phẩm khác nhau; chủ yếu kiểm tra xem doanh nghiệp có tiếp tục đáp ứng các điều kiện thiết yếu để bảo đảm chất lượng sản phẩm hay không, có tiếp tục bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm hay không, cũng như tình hình sử dụng giấy phép sản xuất thực phẩm và nhãn tiếp cận thị trường chất lượng và an toàn thực phẩm. Đối với những vấn đề về chất lượng và an toàn thực phẩm được phát hiện trong quá trình giám sát và kiểm tra, cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải thông báo bằng văn bản yêu cầu doanh nghiệp chấn chỉnh trong thời hạn quy định, đồng thời căn cứ theo các quy định liên quan, yêu cầu cơ quan kiểm nghiệm do chỉ định tiến hành kiểm tra ngặt nghèo hơn đối với thực phẩm do doanh nghiệp sản xuất, gia công trong một khoảng thời gian nhất định.
Điều 46
Doanh nghiệp sản xuất, gia.công thực phẩm không được sử dụng các nguyên liệu thô quá hạn, hết hiệu lực, biến chất, bẩn thỉu không sạch sẽ, lâu ngày, tái chế hoặc không dùng để ăn để sản xuất, gia.công thực phẩm. Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải tăng cường giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng nguyên liệu thô, phụ gia và vật liệu đóng gói của doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm; kiểm tra xem khi thu mua nguyên liệu thô thực phẩm, doanh nghiệp có yêu cầu đơn vị cung cấp xuất trình chứng nhận đạt tiêu chuẩn hay tự mình kiểm tra, ủy quyền kiểm tra đạt tiêu chuẩn hay không.
Điều 47
Khi sử dụng nguồn nguyên liệu mới, chủng loại phụ gia thực phẩm mới để sản xuất, gia công thực phẩm, hoặc sử dụng nguyên liệu mới để đóng gói thực phẩm, doanh nghiệp sản xuất, gia công thực phẩm bắt buộc phải tiến hành kiểm tra chất lượng và an toàn trước khi đưa vào sản xuất, đồng thời phải cung cấp chứng nhận kiểm tra chất lượng và an toàn cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng. Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng tiến hành giám sát việc sử dụng các vật liệu mới nói trên.
Điều 48
Tổng cục Chất lượng Quốc gia và cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh chịu trách nhiệm giám sát và quản lý công tác của cơ quan kiểm nghiệm thực phẩm. Trường hợp kết quả kiểm nghiệm không khớp với thực tế thì phải truy cứu trách nhiệm của cơ quan kiểm nghiệm liên quan.
Điều 49
Trường hợp có ý kiến khác nhau về kết luận kiểm tra giám sát, doanh nghiệp có thể nộp đơn xin kiểm tra lại cho cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng tổ chức kiểm tra giám sát đó hoặc cơ quan quản lý cấp trên trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả kiểm nghiệm. Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng phải ủy quyền cho cơ quan kiểm nghiệm pháp định để tiến hành kiểm tra lại, đồng thời phải đưa ra câu trả lời bằng văn bản trong vòng 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn xin kiểm tra lại. Kết quả kiểm tra lại là kết luận cuối cùng.
Chương VII: Nhân viên thẩm định và nhân viên kiểm nghiệm
Điều 50
Nhân viên thẩm định tham gia công việc thẩm định điều kiện thiết yếu của doanh nghiệp phải có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên hoặc có tư cách nhậm chức chức vụ kỹ thuật chuyên nghiệp từ trung cấp trở lên, đã quen thuộc và từng làm công tác quản lý giám sát chất lượng hoặc quen thuộc và từng làm công tác sản xuất hoặc kiểm tra thực phẩm; sau khi qua đào tạo và kiểm tra đạt yêu cầu mới được đảm nhiệm công việc thẩm định giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 51
Nhân viên kiểm nghiệm thực phẩm phải có trình độ học vấn quy định hoặc có tư cách nhậm chức chức vụ kỹ thuật chuyên nghiệp sơ cấp (bao gồm cả trình độ sơ cấp chuyên ngành chất lượng), từng làm công tác kiểm tra thực phẩm hoặc kiểm tra chuyên ngành liên quan, đồng thời qua kiểm tra đạt tiêu chuẩn thì mới được đảm nhiệm công tác kiểm tra chất lượng thực phẩm.
Điều 52
Nhà nước thực hiện chế độ quản lý tư cách đối với nhân viên tham gia thẩm định điều kiện chất lượng và an toàn thực phẩm, đồng thời thực hiện chế độ quản lý tư cách nghề (hành nghề) đối với nhân viên kiểm nghiệm thực phẩm. Nhân viên thẩm định và nhân viên kiểm nghiệm cần phải cầm thẻ khi lên làm việc. Những nhân viên chưa qua kiểm tra đạt tiêu chuẩn không được phép làm công tác thẩm định hoặc kiểm tra tương ứng.
Điều 53
Tổng cục Chất lượng Quốc gia chịu trách nhiệm ban hành thống nhất tiêu chuẩn kiểm tra và tài liệu đào tạo đối với nhân viên thẩm định và nhân viên kiểm nghiệm, đào tạo thống nhất giáo viên giảng dạy, đồng thời tổ chức thống nhất việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho nhân viên thẩm định, nhân viên kiểm nghiệm. Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức công tác đào tạo nhân viên thẩm định và nhân viên kiểm nghiệm trong khu vực quản lý của mình.
Điều 54
Tổng cục Chất lượng Quốc gia thực hiện quản lý đăng ký đối với tư cách của nhân viên thẩm định và nhân viên kiểm nghiệm. Thời hạn hiệu lực đăng ký là 3 năm. Trong thời hạn hiệu lực đăng ký, nhân viên thẩm định và nhân viên kiểm nghiệm phải chấp nhận giáo dục liên tục có liên quan căn cứ theo yêu cầu thống nhất của Tổng cục Chất lượng Quốc gia.
Chương VIII: Xử phạt vi phạm
Điều 55
Doanh nghiệp sản xuất, gia công hoặc kinh doanh thực phẩm nếu có một trong các hành vi dưới đây sẽ bị cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng ra lệnh đình chỉ sản xuất, tiêu thụ, yêu cầu đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm trong thời hạn quy định; đồng thời phạt tiền từ 15% đến 20% tổng giá trị sản phẩm sản xuất tiêu thụ vi phạm (bao gồm cả thực phẩm đã bán và chưa bán); có thu nhập bất hợp pháp thì tịch thu thu nhập bất hợp pháp; gây ra tổn thất thì phải truy cứu trách nhiệm theo pháp luật:
-
Tự ý sản xuất mà không có giấy phép sản xuất thực phẩm;
-
Ủy quyền cho doanh nghiệp không có giấy phép sản xuất, gia công thực phẩm;
-
Tiếp tục sản xuất khi giấy phép sản xuất thực phẩm đã quá hạn hiệu lực;
-
Tự ý sản xuất vượt quá phạm vi cho phép;
-
Tiêu thụ sản phẩm không có giấy phép.
Điều 56
Đối với doanh nghiệp đã đạt được giấy phép sản xuất thực phẩm nhưng không ghi rõ mã số giấy phép sản xuất trên bao bì thực phẩm và không in (dán) nhãn QS theo quy định, cơ quan quản lý sẽ ra lệnh chấn chỉnh; trường hợp tình tiết nghiêm trọng, có thể bị phạt tiền dưới 30.000 Nhân dân tệ, thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 57
Hành vi giả mạo, mạo nhận giấy phép sản xuất thực phẩm và nhãn QS; doanh nghiệp đã đạt giấy phép sản xuất nhưng chuyển nhượng hoặc tẩy xóa mã số giấy phép sản xuất hoặc nhãn mác sẽ bị cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng ra lệnh chấn chỉnh và xử phạt theo quy định tại Điều 53 của Luật Chất lượng Sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; trường hợp tình tiết nghiêm trọng sẽ bị thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm.
Hành vi nhận trái phép và sử dụng mã số giấy phép sản xuất do người khác cung cấp sẽ bị xử phạt theo quy định tại khoản trước.
Điều 58
Doanh nghiệp không tiến hành thẩm định hằng năm đúng hạn hoặc thẩm định hằng năm không đạt yêu cầu, không làm thủ tục xin thay đổi theo quy định mà tiếp tục sản xuất sẽ bị cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng ra lệnh chấn chỉnh trong thời hạn quy định; quá hạn không chấn chỉnh sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 53 của Luật Chất lượng Sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; trường hợp tình tiết nghiêm trọng sẽ bị thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 59
Hành vi sử dụng nguyên liệu thô, phụ gia thực phẩm không đáp ứng quy định của Biện pháp này để sản xuất, gia công thực phẩm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 50 của Luật Chất lượng Sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; trường hợp tình tiết nghiêm trọng sẽ bị thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 60
Doanh nghiệp sản xuất thực phẩm không có năng lực kiểm tra sản phẩm xuất xưởng nhưng không tiến hành kiểm tra xuất xưởng ủy quyền theo quy định mà tự ý xuất xưởng tiêu thụ, hoặc doanh nghiệp sản xuất thực phẩm có năng lực kiểm tra xuất xưởng nhưng không thực hiện kiểm tra sản phẩm xuất xưởng theo quy định sẽ bị cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng ra lệnh chấn chỉnh trong thời hạn; quá hạn không sửa đổi hoặc tình tiết nghiêm trọng sẽ bị phạt tiền dưới 30.000 Nhân dân tệ; trường hợp tình tiết nghiêm trọng sẽ bị thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 61
Dụng cụ kiểm tra, đo lường của doanh nghiệp hoặc cơ quan kiểm nghiệm thuộc về phương tiện đo lường phạm vi kiểm định bắt buộc mà không nộp đơn xin kiểm định theo quy định, hoặc phương tiện đo lường thuộc phạm vi kiểm định không bắt buộc không tự định kỳ kiểm định hoặc không gửi cho cơ quan kiểm định đo lường khác kiểm định định kỳ, cũng như tiếp tục sử dụng sau khi kiểm định không đạt tiêu chuẩn sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 46 của Quy định Chi tiết Thực hiện Luật Đo lường của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Điều 62
Chất lượng và an toàn thực phẩm không đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn bắt buộc sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 49 của Luật Chất lượng Sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; trường hợp tình tiết nghiêm trọng sẽ bị thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 63
Trong quá trình sản xuất, gia công, doanh nghiệp có các hành vi pha tạp, làm giả; do nguyên nhân chất lượng và an toàn sản phẩm xảy ra tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng; trong đợt kiểm tra lấy mẫu giám sát quốc gia hoặc giám sát kiểm tra do cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng cấp tỉnh tổ chức, chỉ tiêu chất lượng và an toàn liên tục 2 lần kiểm tra lấy mẫu không đạt tiêu chuẩn; doanh nghiệp từ chối chấp nhận giám sát kiểm tra, nếu hậu quả và tình tiết nghiêm trọng, cơ quan cấp phép sẽ thu hồi giấy phép sản xuất thực phẩm và xử phạt hành chính theo pháp luật, quy định có liên quan.
Điều 64
Cơ quan kiểm nghiệm vi phạm quy định này, làm giả kết quả kiểm nghiệm hoặc cấp chứng nhận giả mạo sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 57 của Luật Chất lượng Sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng thời bãi bỏ tư cách đảm nhiệm nhiệm vụ kiểm nghiệm; bãi bỏ tư cách công nhận phòng thí nghiệm và chứng nhận đo lường, thẩm định xét duyệt.
Điều 65
Nhân viên làm công tác giám sát quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm lạm dụng quyền lực, xao lãng công vụ, làm việc vì tư lợi mà cấu thành tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật; trường hợp chưa cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính theo pháp luật.
Cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng làm công tác giám sát quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm có các hành vi vi phạm pháp luật quy định nói trên sẽ bị cảnh cáo và thông cáo phê bình; trường hợp tình tiết nghiêm trọng sẽ bị bãi bỏ tư cách làm công tác thẩm định giấy phép sản xuất thực phẩm.
Điều 66
Nhân viên thẩm định, nhân viên kiểm nghiệm thực hiện trách nhiệm trong công việc không khách quan, không công bằng sẽ bị phê bình, cảnh cáo hoặc điều chuyển vị trí công tác và xử lý kỷ luật hành chính cần thiết khác tùy theo mức độ nặng nhẹ của tình tiết, cho đến khi bị bãi bỏ tư cách lên làm việc.
Điều 67
Doanh nghiệp, cơ quan kiểm nghiệm có ý kiến khác nhau đối với hành vi thẩm định cấp phép và xử phạt hành chính của cơ quan giám sát kỹ thuật chất lượng thì có thể nộp đơn phúc hồi hành chính hoặc khởi kiện hành chính theo pháp luật.
Chương IX: Những quy định bổ sung
Điều 68
Doanh nghiệp nộp đơn làm thủ tục cấp giấy phép sản xuất thực phẩm và sản phẩm ủy quyền kiểm tra chất lượng phải nộp phí theo quy định có liên quan của nhà nước. Tiêu chuẩn thu phí được thực hiện theo văn bản do cơ quan quản lý vật giá nhà nước phê chuẩn.
Điều 69
Biện pháp này do Tổng cục Chất lượng Quốc gia chịu trách nhiệm giải thích.
Điều 70
Biện pháp này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.
(Mẫu mã, kích thước và yêu cầu màu sắc của nhãn tiếp cận thị trường thực phẩm)

![]()