Sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng tại xã Vĩnh Hòa Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang), Bảy Ước tham gia cách mạng từ năm 1945. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, anh tòng quân và hoạt động trong Ban Tình báo C70. Tập kết ra Bắc, anh Bảy gặp và kết duyên cùng chị Nguyễn Kim Mến (Tư Mến) người cùng quê. Năm 1965, anh để vợ và hai con nhỏ ở lại hậu phương lớn, lặng lẽ vượt Trường Sơn về chiến trường Rừng Sác đầy gian khổ, ác liệt. Ba năm sau, nữ y sĩ Tư Mến cũng gửi lại cho bà cô hai con nhỏ, đứa gái 4 tuổi và đứa trai 2 tuổi, để trở về Nam.

Ngày 15-4-1966, Bộ chỉ huy Miền quyết định thành lập Đặc khu Rừng Sác, mật danh T10; đến năm 1967, chính thức có phiên hiệu Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác (về sau là Trung đoàn 10 thuộc Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh). Từ Phó chính ủy, anh Bảy Ước trở thành Chính ủy, rồi Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10. Vợ anh, chị Nguyễn Kim Mến cũng về Rừng Sác và là quân y sĩ của đơn vị.

Trên chiến trường sông nước sình lầy, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 10 vừa xây dựng củng cố lực lượng, họ phải trần thân đối mặt với các cuộc càn quét “lột da” Rừng Sác vô cùng khốc liệt của Mỹ-ngụy. Thường xuyên đương đầu với ba kẻ thù nguy hiểm, đó là lính Mỹ, sóng lớn và cá sấu, nhưng những chiến sĩ đặc công thủy vẫn không hề ngán ngại. Với thủy lôi, pháo, súng, cơm vắt, gạo rang, chai nước, các anh xung trận. Cắn răng chịu đựng gian khổ, lắm khi thiếu lương thực, thiếu nước ngọt, thiếu vũ khí và thuốc men… họ vẫn kiên gan trụ bám, chiến đấu. Những giây phút ngặt nghèo ấy, người chỉ huy Lê Bá Ước luôn đồng cam cộng khổ với cán bộ, chiến sĩ. Nhiều lúc bị địch vây chặt, bít hết mọi bề, lương cạn, đạn kiệt, tiền không một xu dính túi, anh Bảy vẫn động viên anh em giữ vững tinh thần, “còn người còn chiến đấu, còn người còn trận địa”. Ngay cả những khi đứt liên lạc với cấp trên, những người lính đặc công Rừng Sác xác định “nghe xã luận trên đài Hà Nội mà đánh giặc!”. Vượt lên nhiều thử thách, Đoàn 10 đặc công đã mưu trí, dũng cảm, thít chặt “yết hầu” sông Lòng Tàu. Họ đã nhấn chìm hàng trăm tàu chiến và tàu vận tải quân sự của địch, trong đó có tàu Baton Rugiơ Victory (ngày 23-8-1966) chở 100 xe tăng, 3 máy bay phản lực, hàng trăm khẩu pháo (tháo rời) cùng hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm; đánh sập nhiều bến cảng, đốt cháy kho xăng Nhà Bè (2 lần) và kho bom Thành Tuy Hạ, pháo kích vào dinh Độc Lập, bắn cháy 23 máy bay trực thăng… lập nên những chiến công vang dội, làm điên đầu bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Mỹ-ngụy. Phẩm cách kiên cường, quyết đoán và sáng tạo của người chỉ huy Lê Bá Ước luôn được anh em kính trọng, được đồng đội suy tôn là “Người anh cả của Rừng Sác”.