Vì sao lại chọn phương án kéo điện lưới ra Côn Đảo, thay vì điện gió ngoài khơi?

Vì sao lại chọn phương án kéo điện lưới ra Côn Đảo, thay vì điện gió ngoài khơi?

Nguyễn Hồng Thái
Thứ Tư, 17/01/2024 12 phút đọc
Nội dung bài viết

08:41 | 17/01/2024

 - Ngày 16/1/2024, trong kỳ họp bất thường của Quốc hội, khi thảo luận ở tổ về tờ trình của Chính phủ về phân bổ vốn cho các dự án đầu tư công (trong đó có kế hoạch vốn ngân sách trung ương trên 2.520 tỷ đồng cho EVN để kéo điện lưới quốc gia ra Côn Đảo), đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng - Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế Quốc hội băn khoăn: Vì sao lại chọn phương án kéo điện lưới ra Côn Đảo, thay vì phát triển điện gió ngoài khơi, điện sinh khối tại đây? Trao đổi thêm về nội dung này, Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin dẫn lại 4 phương án của đơn vị tư vấn dưới đây để đại biểu và bạn đọc cùng tham khảo.

Côn Đảo là huyện đảo gồm 16 hòn đảo lớn, nhỏ, được Chính phủ định hướng phát triển thành khu sinh thái du lịch biển đảo và văn hóa - lịch sử - tâm linh chất lượng cao, đặc sắc tầm cỡ khu vực và quốc tế. Theo dự báo phát triển Côn Đảo, dự kiến quy mô dân số đến năm 2045 đạt khoảng 25.000 người, nhu cầu phụ tải điện khoảng 94 MW cho giai đoạn 2035 - 2045.

Theo đó, giải pháp cấp điện cho Côn Đảo với tầm nhìn đến năm 2045 để vừa phải đảm bảo cấp điện liên tục, ổn định, giá cả chấp nhận được và vừa phải phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng Việt Nam theo cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 là một bài toán đầy thách thức. Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 2 (PECC2) là đơn vị tư vấn đi tìm lời giải cho bài toán này.

Hiện trạng cung ứng điện cho Côn Đảo:

Hiện nay, Côn Đảo đang được cấp điện từ nguồn độc lập là các tổ máy phát điện diesel của Nhà máy điện diesel An Hội và An Hội (mở rộng) thuộc sở hữu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) với tổng công suất lắp đặt khoảng 11,82 MW, công suất khả dụng khoảng 9,65 MW.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn huyện đảo tự trang bị thêm các tổ máy phát điện diesel nhỏ, độc lập, với số lượng khoảng 36 tổ máy, tương ứng với tổng công suất lắp đặt 10,43 MW.

Côn Đảo cũng đã có phát triển năng lượng tái tạo, tuy vẫn còn khiêm tốn. Một số hệ thống điện mặt trời trên mái nhà đã được lắp đặt với tổng công suất 746,3 kWp. Ngoài ra, còn có 26 trạm phát điện mặt trời với tổng công suất khoảng 5,1 kWp, chủ yếu phục vụ cho các hộ tiêu thụ nhỏ như các đơn vị kiểm lâm đóng trên các hòn đảo nhỏ, đơn vị thông tin trên đỉnh núi Thánh Giá, hay phục vụ cho hệ thống y tế, du lịch sinh thái tại các đảo.

Khả năng phát triển năng lượng tái tạo trên Côn Đảo bị hạn chế bởi quỹ đất. Theo kế hoạch sử dụng đất năm 2022 của huyện Côn Đảo (được phê duyệt tại Quyết định số 1209/QĐ-UBND ngày 14/4/2022 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), quỹ đất dành cho các công trình năng lượng chỉ vào khoảng 2,89 ha, chiếm 0,04% diện tích tự nhiên. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất cho phát triển 1,0 MWp điện mặt trời vào khoảng 1,2ha. Vì vậy, việc phát triển nguồn năng lượng tái tạo trên đảo không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển phụ tải của Côn Đảo.

Các phương án cấp điện được so sánh, lựa chọn:

Phương án 1: Phát triển nguồn điện gió ngoài khơi (ĐGNK).

Khu vực biển Côn Đảo có tiềm năng gió lớn, tốc độ gió trung bình từ 7-8 m/s và mật độ năng lượng gió trung bình năm khoảng 400 W/m2 nên thuận lợi cho việc phát triển điện gió ngoài khơi (ĐGNK).

ĐGNK là công nghệ phức tạp và quy mô, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, chuỗi cung ứng toàn diện cùng với sự xem xét thẩm duyệt của nhiều cơ quan chức năng (cơ quan quản lý hàng hải, năng lượng, ngư nghiệp, quốc phòng…). Việc đầu tư điện gió ngoài khơi Côn Đảo phải xem xét khoảng cách đến bờ cách xa tối thiểu 3 hải lý (~ 5,5km) - nơi có độ sâu nước trung bình khoảng 25 ÷ 35m, để tránh các tác động tiêu cực về cảnh quan, khu bảo tồn biển và xung đột với các hoạt động gần bờ.

Xét về mặt năng lượng, phương án này có thể đáp ứng tổng điện năng cho toàn đảo, nhưng nếu xem xét biểu đồ phụ tải, có nhiều thời điểm ĐGNK (dù đầu tư xây dựng với công suất lớn hơn nhiều lần phụ tải) không đáp ứng nhu cầu công suất cực đại trong ngày, như được minh họa rõ hơn ở đồ thị hình dưới đây:

Vì sao lại chọn phương án kéo điện lưới ra Côn Đảo, thay vì điện gió, sinh khối?
Hình minh họa cân bằng công suất và điện năng gió theo biểu đồ phụ tải.

Vì vậy, cần phải có giải pháp bổ sung thêm nguồn chạy bù cho điện gió để đảm bảo tính ổn định và liên tục cung cấp điện cho đảo.

Phương án 2: Phát triển nguồn điện gió ngoài khơi kết hợp với nguồn diesel hiện hữu và điện mặt trời hiện hữu.

Kết hợp phát triển ĐGNK, với các nguồn điện có sẵn trên đảo: Nguồn điện diesel với tổng công suất khả dụng khoảng 9,65 MW; nguồn điện mặt trời với tổng công suất lắp đặt khoảng 750 kWp.

Đối với phát triển nguồn ĐGNK, lựa chọn công suất đặt theo nguyên tắc:

- Điện năng sản xuất từ điện gió ≥ (sản lượng điện thương phẩm của đảo + tổn thất truyền tải - sản lượng điện từ nguồn diesel và điện mặt trời); và:

- Công suất đặt điện gió ≥ (công suất dự báo phụ tải Pmax - công suất nguồn diesel và điện mặt trời).

Nguồn điện gió có tính chất không ổn định và phụ thuộc nhiều vào điều kiện gió. Nhất là vào các tháng chuyển mùa từ mùa mưa sang mùa khô và từ mùa khô sang mùa mưa, khi gió suy yếu thì công suất và lượng điện năng cung cấp từ điện gió ngoài khơi giảm đến 80 - 90%, cho nên cần đánh giá thêm việc cân bằng công suất và điện năng trong đáp ứng biểu đồ phụ tải theo từng giờ trong năm. Việc tính toán cân bằng với biểu đồ phụ tải theo nguyên tắc sau:

- Ưu tiên nguồn điện mặt trời cung cấp cho phụ tải.

- Khi nguồn mặt trời không đủ đáp ứng tải sẽ bổ sung từ nguồn điện gió.

- Khi nguồn điện mặt trời và gió không đáp ứng tải sẽ huy động nguồn diesel.

Phương án 3: Phát triển nguồn ĐGNK, điện mặt trời kết hợp với nguồn diesel hiện hữu và hệ thống pin lưu trữ (BESS).

Phương án này dựa trên cơ cấu phát triển các nguồn như sau:

- Nguồn điện diesel hiện hữu: Tổng công suất khả dụng khoảng 9,65 MW.

- Nguồn điện mặt trời: Tổng công suất lắp đặt hiện nay khoảng 750 kWp. Dự kiến phát triển thêm các nguồn điện mặt trời để nâng công suất lên 12 MWp trên cơ sở xem xét tận dụng hết lượng đất dành cho năng lượng trên đảo (2,89ha) để phát triển thêm khoảng 2 MWp và tận dụng mặt nước các hồ chứa An Hải, Quang Trung 1 và Quang Trung 2 để lắp đặt thêm khoảng 9 MWp điện mặt trời nổi.

Đối với phát triển nguồn ĐGNK, lựa chọn công suất đặt theo nguyên tắc:

- Điện năng sản xuất từ điện gió ≥ (sản lượng điện thương phẩm của đảo + tổn thất truyền tải - sản lượng điện từ nguồn diesel và điện mặt trời); và

- Công suất đặt điện gió ≥ (công suất dự báo phụ tải Pmax - công suất nguồn diesel và điện mặt trời).

Phương án này, khác với các phương án 1 và 2, có xem xét đầu tư thêm hệ thống pin lưu trữ (BESS) nhằm tận dụng lượng điện năng thừa từ gió và mặt trời để phục vụ cung cấp điện. Nguồn BESS được lựa chọn quy mô theo nguyên tắc sau:

- Công suất lắp đặt BESS: Khoảng 10% phụ tải cực đại Pmax, có thể đáp ứng các phụ tải quan trọng khi không có các nguồn năng lượng tái tạo.

- Dung lượng BESS: Khoảng 10 giờ lưu trữ, đảm bảo cho ngày làm việc hành chính (bao gồm nghỉ trưa).

Phương án 4: Cấp điện từ lưới điện quốc gia bằng tuyến cáp ngầm vượt biển.

Nguồn điện từ lưới điện quốc gia có tính chất đa dạng về loại hình nguồn, có độ dự trữ cao cho nên đảm bảo việc cung cấp điện liên tục, ổn định và lâu dài theo nhu cầu phụ tải cực đại trên đảo trong từng giai đoạn phát triển.

Việc cấp điện từ lưới điện quốc gia bằng tuyến cáp ngầm vượt biển có ưu điểm như sau:

- Đáp ứng tiêu chí cung cấp điện liên tục, ổn định và lâu dài theo nhu cầu phụ tải cực đại trên đảo trong từng giai đoạn phát triển.

- Phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (giai đoạn 2016 - 2025, có xét tới 2035) - Hợp phần Quy hoạch phát triển hệ thống điện 110 kV (được phê duyệt tại Quyết định số 4694/QĐ-BCT ngày 1/12/2016 của Bộ Công Thương).

- Chiếm ít diện tích đất trên đảo.

- Không ảnh hưởng nhiều đến các khu vực dân cư, quy hoạch chung trên đảo.

- Không gây tác động xấu đến môi trường và cảnh quan xung quanh.

Kết quả so sánh các phương án cấp nguồn cho Côn Đảo như sau:

Tiêu chí

Phương án 1

Phương án 2

Phương án 3

Phương án 4

Đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải

Đáp ứng

Đáp ứng

Đáp ứng

Đáp ứng

Nguồn cung cấp điện ổn định và liên tục

Không đáp ứng.

Mặc dù đảm bảo về cân bằng năng lượng nhưng phụ thuộc nhiều vào điều kiện gió nên hệ thống cấp nguồn không thể phủ toàn bộ được biểu đồ phụ tải.

Không đáp ứng.

Mặc dù đảm bảo về cân bằng năng lượng nhưng phụ thuộc nhiều vào điều kiện gió nên hệ thống cấp nguồn không thể phủ được toàn biểu đồ phụ tải.

Trong trường hợp không có gió, hoặc công suất phát không đảm bảo, hệ thống chỉ đảm bảo công suất tương ứng với quy mô các nhà máy Diesel hiện hữu.

Không đáp ứng.

Mặc dù đảm bảo về cân bằng năng lượng nhưng phụ thuộc nhiều vào điều kiện gió nên hệ thống cấp nguồn không thể phủ toàn bộ được biểu đồ phụ tải.

Trong trường hợp không có gió, hoặc công suất phát không đảm bảo, hệ thống Diesel hiện hữu và BESS chỉ đảm bảo cung cấp điện cho các phụ tải đặc biệt trong thời gian 10 giờ.

Đáp ứng

Hướng đến giảm phát thải và bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái

Đáp ứng

Không đáp ứng do dùng nguồn diesel để chạy bù (có lượng phát thải CO2, NOx, SOx)

Không đáp ứng do dùng nguồn diesel để chạy bù (có lượng phát thải CO2, NOx, SOx)

Đáp ứng theo lộ trình cam kết tại COP 26

Phù hợp với quy hoạch chung và sử dụng đất

Đáp ứng

Đáp ứng

Không đáp ứng, cần thêm diện tích đất cho lắp đặt BESS + Điện mặt trời mặt đất; cần chuyển đổi mục đích sử dụng để lắp đặt điện mặt trời trên hồ

Đáp ứng

Chi phí đầu tư (sau thuế)

7.469 tỷ đồng

6.165 tỷ đồng

7.125 tỷ đồng

4.950 tỷ đồng

Giá thành điện năng

4.604 đ/kWh

4.062 đ/kWh

4.338 đ/kWh

3.881 đ/kWh

Nhận xét chung

Không đáp ứng, do không cung cấp điện ổn định và liên tục

Đáp ứng một phần, rủi ro về thiếu điện cục bộ trong mùa giảm gió; có phát thải COx, NOx khi huy động nguồn diesel chạy bù

Đáp ứng một phần, rủi ro về thiếu điện cục bộ trong mùa giảm gió; có phát thải COx, NOx khi huy động nguồn diesel chạy bù

Đáp ứng

Giải pháp cấp điện bền vững được lựa chọn cho Côn Đảo:

Phương án cấp điện từ lưới điện quốc gia bằng tuyến cáp ngầm vượt biển ra Côn Đảo là giải pháp cung cấp điện ổn định, tin cậy, giá điện ở mức chấp nhận được và đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải qua các giai đoạn phát triển của huyện đảo.

Bên cạnh đó, theo xu thế và lộ trình phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam, tuyến cáp ngầm cấp điện cho Côn Đảo khi được xây dựng sẽ tạo cơ hội đầu tư các dự án điện gió ngoài khơi Côn Đảo với quy mô khoảng 200 MW theo lộ trình phù hợp. Khi đó, tuyến cáp ngầm vượt biển đóng vai trò điều tiết và cân bằng công suất, điện năng giữa đất liền với Côn Đảo. Tuyến cáp sẽ truyền tải nguồn điện năng dư từ điện gió ngoài khơi Côn Đảo (sau khi đã cấp đủ cho phụ tải tại huyện Côn Đảo) vào đất liền ở chế độ gió trung bình năm và ngược lại sẽ truyền tải nguồn điện năng từ đất liền cấp cho đảo ở các chế độ giảm gió./.

TRƯƠNG VĂN CƯỜNG, LÊ ĐỨC THIỆN VƯƠNG

Viết bình luận của bạn
KN95 Dust Mask have standard for TCVN Vietnam, EN149 EU European, GB2626 china standard

KN95 Dust Mask have standard for TCVN Vietnam, EN149 EU European, GB2626 china standard

Thứ Ba, 10/02/2026 3 phút đọc

KN95 Dust Mask is a protective mask that complies with the KN95 level specified in China’s national standard GB2626-2019. It is mainly used to filter non-oily... Đọc tiếp

折叠防尘口罩(KN95 带阀)越南TCVN, EN149, GB2626

折叠防尘口罩(KN95 带阀)越南TCVN, EN149, GB2626

Thứ Ba, 10/02/2026 1 phút đọc

防尘口罩KN95是一种符合中国国家标准GB2626-2019中KN95级别的防护口罩,主要用于过滤空气中的非油性颗粒物,如粉尘、烟尘、微生物等,其过滤效率达到95%以上,能有效保护佩戴者的呼吸系统健康。‌上述提到的商品,可以点击下方了解更多的商品参数。‌     技术原理与过滤机制 KN95口罩的核心在于其多层过滤结构,通常包括外层无纺布、中层静电熔喷布和内层亲肤无纺布。外层无纺布主要起到防飞沫、防大颗粒物的作用;中层静电熔喷布是关键过滤层,通过静电吸附原理捕获微小颗粒物,如PM2.5、病毒载体等;内层无纺布则提供舒适性,减少皮肤刺激。这种多层设计结合了机械过滤与静电吸附,实现了高效过滤与低呼吸阻力的平衡。   应用场景与行业需求 KN95口罩广泛应用于多个领域,尤其在需要高浓度粉尘或有害颗粒物防护的场景中表现突出。例如,在石油化工行业,工人可能接触有毒化学物质或粉尘;在消防领域,救援人员需应对烟雾和有害气体;在建筑工地,施工人员常面临混凝土粉尘和金属颗粒的威胁。此外,KN95口罩也是医疗、制药、食品加工等行业的标准防护装备,用于防止交叉感染或产品污染。   行业标准与认证要求 根据中国国家标准GB2626-2019,KN95口罩需通过多项严格测试,包括过滤效率、呼吸阻力、泄漏率、佩戴舒适性等。其中,过滤效率测试需在0.3微米颗粒物下达到95%以上;呼吸阻力测试要求吸气阻力不超过350帕斯卡,呼气阻力不超过250帕斯卡。   此外,口罩需通过泄漏率测试,确保与面部贴合紧密,减少漏气风险。符合这些标准的口罩才会被授予KN95认证,消费者可通过包装上的标识或检测报告验证产品合规性。 选购与使用注意事项 ‌认证标识‌:选择包装上明确标注“GB2626-2019 KN95”的产品,避免购买无认证或假冒伪劣口罩。‌贴合度测试‌:佩戴前需调整鼻夹和头带,确保口罩与面部紧密贴合,无漏气现象。可通过双手轻压口罩边缘,检查是否漏气。 ‌   更换周期‌:KN95口罩为一次性使用产品,建议根据使用环境污染程度,每4-8小时更换一次。若口罩潮湿、变形或呼吸阻力明显增加,需立即更换。 ‌存储条件‌:未使用的口罩应存放在干燥、通风处,避免阳光直射和高温环境,以防材料老化。   配套设备与扩展应用 在极端污染或高风险环境中,KN95口罩可与护目镜、防护服等设备配合使用,提供全面防护。例如,在疫情期间,医护人员常将KN95口罩与医用外科口罩叠加使用,以增强防护效果。此外,部分KN95口罩设计有呼吸阀,可降低呼气阻力,提高长时间佩戴的舒适性,但需注意,呼吸阀口罩不适用于需要严格双向防护的场景,如医疗隔离区。 ‌   现在店内有这类商品,我们的防尘口罩KN95符合国标,配备呼吸阀,更换滤料方便,用途广泛,包装为箱装,发货快,欢迎联系我们获取更多信息。 Đọc tiếp

Khẩu trang chống bụi KN95 đạt các tiêu chuẩn TCVN, EN149, GB2626

Khẩu trang chống bụi KN95 đạt các tiêu chuẩn TCVN, EN149, GB2626

Thứ Ba, 10/02/2026 5 phút đọc

Khẩu trang chống bụi KN95 là loại khẩu trang bảo hộ đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia Trung Quốc GB2626-2019 ở cấp độ KN95, chủ yếu... Đọc tiếp

Nội dung bài viết